Hiển thị các bài đăng có nhãn Trò chơi dân gian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trò chơi dân gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Những ai lớn lên từ đồng quê dân dã chắc khó thể nào quên trò chọi dế (có vùng gọi là đá dế).

Dế là một trong những “ca sĩ đồng quê” từng hòa âm trong giàn giao hưởng bên cạnh chẫu chàng, ễnh ương, ếch ộp… Dế có mặt hầu khắp trên những vùng quê, nhiều nhất là ở vùng biền bãi hay những khu vườn xanh nõn luống cải, khóm rau. Như tuổi thơ tôi dầu dãi bên những bãi bồi ven sông Vĩnh Điện, một nhánh Thu Bồn chảy ra Hàn, đã đắm mình trong những trò đá dế, hay bắt dế về rang cháy thơm trong bao mùa lụt lội.

Bắt dế để ăn, chẳng phải lựa gì. Mùa nước lụt, nước vừa xiêm xiếp liếm lên bãi bồi, bọn trẻ trong làng đã gọi nhau đi bắt dế. Chỉ cần nhìn thấy hang, lấy chân dậm thùng thình cách một quãng ngắn là một con dế phóng lên, chộp ngay. Rồi khi nước lụt tràn khắp bãi, dế rời hang bò dần lên những cây tre, cây keo, bâu kín những hàng rào chè tàu. Những con dế mèn ướt lướt thướt chỉ chờ tay người nhặt. Vài ba tiếng đồng hồ đã đủ để làm một bữa dế rang. Dế bắt về ngắt cánh, kéo ruột ra, rồi rang với chút dầu phụng thơm lừng, béo ngậy, ăn với cơm nóng trong mùa lũ lụt, lạnh chân vì dầm nước bạc, thật là món nhớ đời.

Muốn bắt dế để chọi thì khó hơn bởi công phu tìm kiếm cho ra dế cụ. Dế cụ đào hang nhiều ngõ ngách, đổ nước hay đào bắt phải mất hàng tiếng đồng hồ. Bắt được cụ dế mèn râu ria, vạm vỡ, bị cụ đá tanh tách vào tay mấy phát nhưng phải nâng niu giữ cho được cặp càng. Rồi lại kiếm cỏ non nhứ cho ăn, lấy sương cho uống, chăm sóc một con dế để đem chọi không khác người ta vỗ cho vận động viên đi đấu… si ghêm.

Sân chọi dế… nhỏ nhất thế giới. Đó là cái lỗ hình chữ nhật trên mặt đất, bề ngang chừng một lóng tay, dài hai lóng tay. Hai con dế thả vào đấy, chật chội, không đá nhau để giành chỗ mới là chuyện lạ. Lại đôi khi bị cọng cỏ quất vào đít, khiến cu cậu thiếu kiềm chế tưởng đối phương tấn công, liền phản đòn. Những cú đá hậu tanh tách có thể xé nát cánh, làm gãy càng đối thủ, và xúm xít những mái đầu trẻ thơ chổng khu lên xem cổ vũ cuồng nhiệt. Một võ sĩ dế đá mấy lượt thì phế võ công cũng bởi sức tàn lực kiệt.

Xa rồi những năm tháng trẻ thơ, những bãi biền Vu Gia, Thu Bồn đã bao mùa xanh cây mà mùi thơm nồng từ chảo dế rang, tiếng dế đá tanh tách vẫn như còn vẳng mãi trong lòng tôi. Trò đá dế, cách chơi dân dã ấy giờ còn mấy trẻ thơ đi tìm? Lục trong sách cũ chợt thấy thiên truyện “Chọi dế” chiếm một góc “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng Linh, thoảng chút ngậm ngùi. Đồng quê ơi, có ai bây giờ như những phi tần đời Đường được tuyển lựa vào cung, đem theo những con dế trong chiếc lồng nhỏ bằng vàng đặt bên gối để nghe tiếng dế nỉ non mà nhớ về nơi thôn dã?...

Chọi gà là trò chơi dân gian mang đậm nét văn hóa truyền thống ở Việt Nam và một số quốc gia châu Á khác. Ở Việt Nam, mùa chọi gà bắt đầu từ tháng Chạp âm lịch và kéo dài đến tháng tư, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Các cuộc thi chọi gà thường trở thành những ngày hội. Các làng, xã có gà tham gia thi đều mong muốn gà của làng, xã mình chiến thắng để mang lộc lại cho cả năm.

Thú chơi cũng lắm công phu

Không ai biết nghề nuôi và chơi gà chọi có từ bao giờ, nhưng giới nuôi và chơi gà chọi ở Hải Phòng lưu truyền một giai thoại về nghề. Chuyện kể, trước kia, làng Văn Cú (xã Lê Lợi, huyện An Dương) nổi tiếng với nghề nuôi và chơi gà chọi. Theo các bậc cao tuổi, có lẽ do đất làng có hình dáng con gà chọi nên nơi đây luôn sản sinh ra những con gà, chọi đâu thắng đó. Cách đây 30 năm, khi làm đường cắt qua vùng đất hình cổ gà, “long mạch” về nghề bị cắt, do vậy làng không còn nuôi được những con gà tài chọi kỳ tài. Từ đó, nghề nuôi và chơi gà chọi “phát” sang tổng Đại Trà (gồm 4 thôn: Lạng Côn, Đại Trà, Đức Phong, Phong Cầu thuộc hai xã Đại Đồng và Đông Phương (Kiến Thụy).

Ở tổng Đại Trà, dân nuôi, chơi và thích xem gà chọi biết đến ông Dụ “ô”(Phong Cầu, Đại Đồng,Kiến Thụy), nổi tiếng bởi từng “đúc” được một con gà ô kỳ tài, chọi đâu thắng đó. Ông cho biết, nghề nuôi và chơi gà chọi rất lắm công phu, nhưng cái chính là phải có tình yêu và lòng đam mê, bởi nuôi gà chọi rất kỳ công, từ việc chọn giống đến chăm sóc và đưa gà ra sới chọi. Chăm gà chọi cũng giống như chăm chút đứa con của mình. Ngoài ra, người nuôi và chơi gà chọi còn phải biết cách xem tướng gà để có thể chọn được những con gà hay, gà tài.

Người nuôi gà chọi coi trọng việc tìm “tông mác” (chọn giống) gà, bởi gà bố mẹ hay, giỏi mới có thể sản sinh ra những con gà nòi. Dân chơi gà chọi thường truyền nhau câu thơ về việc chọn gà giống: “Đầu công, mình cốc, cánh vỏ trai/ Đùi dài, quản ngắn chẳng sợ ai”. Chọn gà, trước tiên căn cứ vào bộ lông- “nhất giáp”: lông dày, dài và mượt. Gà phải cao, dài; vẩy móng chân phải to đều, ngón khô, móng bẹ (to); cần cổ gà phải đều, đặc, tròn; mỏ phải to, dài và thẳng. Gà phải có vành mí mắt dày, con ngươi tròn bé (độ gan lì). Chọn được một con gà có những đặc tính trên rất khó n. Dân nuôi gà chọi phải đi nhiều nơi tìm giống gà. Gà đất thép Tuy Hòa (Bình Định) rất được ưa chuộng. Thậm chí, có khi phải nhập gà từ Thái Lan, Hồng Kông…về với giá cao.

Chọn được gà có tướng quý đã khó, nhưng chăm sóc để thành gà chọi hay càng khó. Hằng ngày, phải cho gà ăn đủ 2 bữa thóc tẻ, 3 đến 5 ngày phải cho gà ăn vài miếng lươn, ếch, nhái... Luôn phải trông chừng để gà tránh nhiễm bệnh, tránh rét vào mùa đông và tránh nóng vào mùa hè. Khi gà được một năm tuổi, bắt đầu cho luyện tập. Quá trình luyện tập thường kéo dài 2 tháng- dân trong nghề gọi là “vần”. Trong khoảng thời gian khoảng 1 tuần đến 10 ngày, cho gà chọi thử với gà khác, sau đó, cho gà nghỉ 3 -4 ngày. Sau khi cho chọi thử, phải “om trườm” gà. Trước tiên, lấy các loại lá thảo dược cho vào nấu sôi, sau đó nhúng khăn vào nước lá, vắt khô, để khăn đủ ấm và đắp khăn cho gà, đặc biệt là những chỗ bị đau. Om trườm gà nhằm mục đích làm chai cứng phần da, tan vết thương và làm cho gà dẻo gân. Gà trải qua 4 lần vần, 4 lần om trườm có thể đưa ra “sới” chọi.

Chọi gà-thể hiện tinh thần thượng võ

Để đưa gà ra “sới”, không phải cứ có gà là tham gia được. Người tổ chức thi chọi phải biết cách “ghép gà” (sắp xếp những con đồng cân đồng lạng chọi với nhau). Hai con gà chọi vào sới phải cùng cân, cao bằng nhau và cựa cũng phải dài bằng nhau. Nếu chênh lệch, con gà nào hơn phải “chấp”. Nếu hơn 0,1 kg phải chấp 10 phút bịt mỏ, hơn 1 thành chiều cao (1cm, tính bằng cách so vai) chấp 10 phút bịt mỏ, cựa chênh lệnh (về độ dài, to) hai chủ gà sẽ thỏa thuận quấn băng, vải thêm. Mục đích của việc “ghép gà” và tính “chấp” là bảo đảm công bằng, bởi đối với gà đem ra chọi, “nhất khỏe, nhì tài”. Con nào khỏe hơn, có ưu thế về chiều cao, cân nặng, cựa, sẽ có nhiều khả năng thắng hơn. Nhưng có nhiều trường hợp, những con gà thấp hơn, nhẹ cân hơn nhưng nhờ có lối đánh khôn ngoan nên giành chiến thắng. Một trận chọi gà thường kéo dài trong 9 “hồ”, mỗi hồ 15 phút, nghỉ giữa “hồ” 5 phút. Mỗi trận đấu, chủ gà duy nhất được “vay” thêm 5 phút cho gà nghỉ ngơi và chữa trị khi gà bị đau. Gà bị tính thua khi bỏ chạy (miệng kêu, chân chạy) hoặc chủ gà bế gà lên xin thua. Nhiều trường hợp, do trúng đòn quá nặng, gà chết ngay trong sới.

Ông Chiệc nổi tiếng về nuôi gà chọi ở thôn Đại Trà, xã Đông Phương (Kiến Thụy) cho biết, những người chơi gà chọi coi 2 con gà đá nhau như những người thi đấu võ. Những miếng đánh hiểm, những trận đấu hay và những con gà được coi là “thần kê” đã đi vào “huyền thoại”, được dân trong nghề lưu truyền, ca tụng. Ông còn cho biết, giới nuôi và chơi gà chọi trong cả nước đều biết tiếng gà chọi Đại Trà, bởi ở đây nuôi được nhiều con gà có lối đánh hay “giỏi về đôi chân, lối thế đánh khôn ngoan như dân nhà võ”. Ông Chiệc tâm sự, người nuôi gà chọi cả đời chỉ cần “đúc” được một con gà tài, đi đâu cũng được nhắc đến là mãn nguyện rồi. Vì thế, bây giờ, nhiều người gọi ông là “Chiệc xám”, bởi trước đây ông nuôi được con gà chọi xám, nổi tiếng khắp hàng tổng, hàng tỉnh về độ lì và lối đánh khôn ngoan. Ở tổng Đại Trà cũng như nhiều nơi trong nước, nhà nhà nuôi gà chọi, người người chơi và thích xem chọi gà. Tất cả đều xuất phát từ sự say mê với những trận đấu hay, những đòn thế đẹp. Ở trong vùng, ai cũng nhớ cụ Nhiên ngày còn sống, dù già yếu, khi nghe tin ở đâu có chọi gà là cụ chống gậy đến tận nơi xem. Khi ốm nặng, nằm trên giườngm cụ nói với con cháu, hàng xóm, chỉ muốn khỏe để được xem chọi gà, thế là vui lắm rồi.

Chọi gà là nét văn hóa truyền thống đặc sắc, trải qua gần 1000 năm, thú vui này còn được lưu truyền đến ngày nay là bởi có những người yêu nghề và đam mê thú chơi gà chọi như ông Dụ, ông Chiên, cụ Nhiên…Tuy nhiên, gần đây, nhiều người biến trò chơi dân gian này thành trò cá độ ăn tiền, do vậy mà những nguời nuôi và chơi gà chọi vì sự đam mê cũng buồn lòng. Nên chăng, các cơ quan chức năng có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với việc tổ chức chọi gà, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường hợp tổ chức đá gà để cá độ ăn tiền. Các địa phương nên tổ chức các cuộc thi và trao giải định kỳ, thành lập các câu lạc bộ và tăng cường giao lưu để người yêu và say mê thú chơi gà chọi rộng mở "đất" chơi. Như vậy, nét văn hóa truyền thống tốt đẹp này mới có thể được bảo lưu, gìn giữ.

Ô ăn quan, hay còn gọi tắt là ăn quan là một trò chơi dân gian của trẻ em người Kinh, Việt Nam mà chủ yếu là các bé gái. Đây là trò chơi có tính chất chiến thuật thường dành cho hai người chơi và có thể sử dụng các vật liệu đa dạng, dễ kiếm để chuẩn bị cho trò chơi.


Hiện chưa rõ nguồn gốc cũng như thời điểm bắt đầu nhưng chắc chắn rằng Ô ăn quan đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời. Những câu truyện lưu truyền về Mạc Hiển Tích (chưa rõ năm sinh, năm mất), đỗ Trạng nguyên năm 1086 nói rằng ông đã có một tác phẩm bàn về các phép tính trong trò chơi Ô ăn quan và đề cập đến số ẩn (số âm) của ô trống xuất hiện trong khi chơi. Ô ăn quan đã từng phổ biến ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt nam nhưng những năm gần đây chỉ còn được rất ít trẻ em chơi. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trưng bày, giới thiệu và hướng dẫn trò chơi này.

Theo các nhà nghiên cứu, ô ăn quan thuộc họ trò chơi mancala, tiếng Ả Rập là manqala hoặc minqala (khi phát âm, trọng âm rơi vào âm tiết đầu ở Syria và âm tiết thứ hai ở Ai Cập) có nguồn gốc từ động từ naqala có nghĩa là di chuyển. Bàn chơi mancala đã hiện diện ở Ai Cập từ thời kỳ Đế chế (khoảng 1580 - 1150 TCN). Tuy nhiên còn một khoảng trống giữa lần xuất hiện này với sự tồn tại của mancala ở Ceylon (Srilanka) những năm đầu Công nguyên và ở Ả Rập trước thời Muhammad. Tuy nhiên có những dấu hiệu để nhận định rằng một số dạng mancala lan truyền từ phía Nam Ả Rập hoặc vùng cực Nam của biển Đỏ qua eo biển Bab El Mandeb sang bờ đối diện thuộc châu Phi rồi từ đó xâm nhập lục địa này. Trong những giai đoạn sau, các tín đồ Hồi giáo đã phổ biến mancala sang những miền đất khác cùng với sự mở rộng của tôn giáo và văn hoá.

Cách chơi :

Chuẩn bị

Bàn chơi: bàn chơi Ô ăn quan kẻ trên một mặt bằng tương đối phẳng có kích thước linh hoạt miễn là có thể chia ra đủ số ô cần thiết để chứa quân đồng thời không quá lớn để thuận tiện cho việc di chuyển quân, vì thế có thể được tạo ra trên nền đất, vỉa hè, trên miếng gỗ phẳng.... Bàn chơi được kẻ thành một hình chữ nhật rồi chia hình chữ nhật đó thành mười ô vuông, mỗi bên có năm ô đối xứng nhau. Ở hai cạnh ngắn hơn của hình chữ nhật, kẻ hai ô hình bán nguyệt hoặc hình vòng cung hướng ra phía ngoài. Các ô hình vuông gọi là ô dân còn hai ô hình bán nguyệt hoặc vòng cung gọi là ô quan.

Quân chơi: gồm hai loại quan và dân, được làm hoặc thu thập từ nhiều chất liệu có hình thể ổn định, kích thước vừa phải để người chơi có thể cầm, nắm nhiều quân bằng một bàn tay khi chơi và trọng lượng hợp lý để khỏi bị ảnh hưởng của gió. Quan có kích thước lớn hơn dân đáng kể cho dễ phân biệt với nhau. Quân chơi có thể là những viên sỏi, gạch, đá, hạt của một số loại quả... hoặc được sản xuất công nghiệp từ vật liệu cứng mà phổ biến là nhựa. Số lượng quanluôn là 2 còn dân có số lượng tùy theo luật chơi nhưng phổ biến nhất là 50.

Bố trí quân chơi: quan được đặt trong hai ô hình bán nguyệt hoặc cánh cung, mỗi ô một quân,dân được bố trí vào các ô vuông với số quân đều nhau, mỗi ô 5 dân. Trường hợp không muốn hoặc không thể tìm kiếm được quan phù hợp thì có thể thay quan bằng cách đặt số lượng dânquy đổi vào ô quan.

Người chơi: thường gồm hai người chơi, mỗi người ngồi ở phía ngoài cạnh dài hơn của hình chữ nhật và những ô vuông bên nào thuộc quyền kiểm soát của người chơi ngồi bên đó.

Luật chơi

Mục tiêu cần đạt được để giành chiến thắng: người thắng cuộc trong trò chơi này là người mà khi cuộc chơi kết thúc có tổng số dân quy đổi nhiều hơn. Tùy theo luật chơi từng địa phương hoặc thỏa thuận giữa hai người chơi nhưng phổ biến là 1 quan được quy đổi bằng 10 dânhoặc 5 dân.

Di chuyển quân: từng người chơi khi đến lượt của mình sẽ di chuyển dân theo phương án để có thể ăn được càng nhiềudân và quan hơn đối phương càng tốt. Người thực hiện lượt đi đầu tiên thường được xác định bằng cách oẳn tù tì hay thỏa thuận. Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim đồng hồ tùy ý. Khi rải hết quân cuối cùng, tùy tình huống mà người chơi sẽ phải xử lý tiếp như sau:

Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải tiếp theo chiều đã chọn.

• Nếu liền sau đó là một ô trống (không phân biệt ô quan hay ô dân) rồi đến một ô có chứa quân thì người chơi sẽ đượcăn tất cả số quân trong ô đó. Số quân bịăn sẽ được loại ra khỏi bàn chơi để người chơi tính điểm khi kết thúc. Nếu liền sau ô có quân đã bị ăn lại là một ô trống rồi đến một ô có quân nữa thì người chơi có quyền ăn tiếp cả quân ở ô này... Do đó trong cuộc chơi có thể có phương án rải quân làm cho người chơi ăn hết toàn bộ số quân trên bàn chơi chỉ trong một lượt đi của mình. Trường hợp liền sau ô đã bị ăn lại là một ô vuông chứa quân thì người chơi lại tiếp tục được dùng số quân đó để rải. Một ô có nhiều dân thường được trẻ em gọi là ônhà giàu, rất nhiều dân thì gọi là giàu sụ. Người chơi có thể bằng kinh nghiệm hoặc tính toán phương án nhằm nuôi ônhà giàu rồi mới ăn để được nhiều điểm và có cảm giác thích thú.

Nếu liền sau đó là ô quan có chứa quân hoặc 2 ô trống trở lên thì người chơi bị mất lượt và quyền đi tiếp thuộc về đối phương.

• Trường hợp đến lượt đi nhưng cả 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của người chơi đều không có dân thì người đó sẽ phải dùng 5 dân đã ăn được của mình để đặt vào mỗi ô 1 dân để có thể thực hiện việc di chuyển quân. Nếu người chơi không đủ 5 dân thì phải vay của đối phương và trả lại khi tính điểm.

Cuộc chơi sẽ kết thúc khi toàn bộ dân và quan ở hai ô quan đã bị ăn hết. Trường hợp hai ô quanđã bị ăn hết nhưng vẫn còn dân thì quân trong những hình vuông phía bên nào coi như thuộc về người chơi bên ấy; tình huống này được gọi là hết quan, tàn dân, thu quân, kéo về hay hết quan, tàn dân, thu quân, bán ruộng. Ô quan có ít dân (có số dân nhỏ hơn 5 phổ biến được coi là ít) gọi là quan non và để cuộc chơi không bị kết thúc sớm cho tăng phần thú vị, luật chơi có thể quy định không được ăn quan non, nếu rơi vào tình huống đó sẽ bị mất lượt.

Đồng dao

Trong cách chơi truyền thống có sử dụng một số bài đồng dao, dưới đây là một bài trong số đó:

Hàng trầu hàng cau
Là hàng con gái
Hàng bánh hàng trái
Là hàng bà già
Hàng hương hàng hoa
Là hàng cúng Phật.

Biến thể

Trò chơi có một số biến thể sau:

• Số dân ở mỗi ô vuông là 10 và/hoặc ở ô quan ngoài quan còn có thêm 20 hay 30 dân.

• Khi quân cuối cùng đã được rải xuống, nếu ô liền sau đó là ô quan thì người chơi cũng mất lượt ngay dù ô đó có chứa quân hay không.

• Khi đến lượt đi người chơi có thể tính toán phương án đi của mình trong một khoảng thời gian hợp lý hoặc phải đi ngay mà không được phép tính toán.

Ô ăn quan cho nhiều hơn hai người chơi

Ô ăn quan cũng có thể được chơi với 3 hoặc 4 người chơi trong đó cách di chuyển quân, thể thức tính điểm cũng giống như khi chơi hai người nhưng bàn chơi được thiết kế khác đi cho phù hợp

• Bàn chơi cho 3 người: có hình tam giác đều với 3 ô quan ở 3 đỉnh của tam giác, ở mỗi cạnh kẻ 5 ô vuông để làm ô dân. Người chơi ngồi ở phía cạnh tam giác có các ô dân thuộc quyền kiểm soát của mình.


Bàn chơi cho 4 người: có hình vuông với 4 ô quan ở 4 góc vuông, các ô dân hình vuông kẻ ở 4 cạnh, mỗi cạnh 5 ô. Người chơi ngồi ở phía cạnh hình vuông có những ô dân thuộc quyền kiểm soát của mình.

Trò chơi của con gái. Số người chơi 2-5 người. Đồ chơi gồm có 10 que nhỏ và một quả tròn nặng (quả cà). Cầm quả cà ở tay phải tung lên không trung và nhặt từng que. Lặp lại cho đến khi quả cà rơi xuống đất là mất lượt. Chơi từ bàn 1 (lấy một que một lần tung cà) bàn 2 (lấy hai que một lần) cho đến 10, vừa nhặt quả chuyền vừa hát những câu thơ phù hợp với từng bàn. Một mốt, một mai, con trai, con hến,… Đôi tôi, đôi chị… Ba lá đa, ba lá đề v.v. Hết bàn mười thì chuyền bằng hai tay: chuyền một vòng, hai vòng hoặc ba vòng và hát: “Đầu quạ, quá giang, sang sông, trồng cây, ăn quả, nhả hột…” khoảng 10 lần là hết một bàn chuyền, đi liền mấy ván sau và tính điểm được thua theo ván.

Tùm nụ, tùm nịu
Tay tí, tay tiên
Ðồng tiền, chiếc đũa
Hột lúa ba bông
ăn trộm, ăn cắp trứng gà
Bù xa, bù xít

Con rắn, con rít trên trời
Ai mời mày xuống?
Bỏ ruộng ai coi?
Bỏ voi ai giữ?
Bỏ chữ ai đọc
.................

Ðánh trống nhà rông
Tay nào có?
Tay nào không?
Hổng ông thì bà
Trái mít rụng
...................

Căn cứ vào hai câu "Tay nào có? Tay nào không?", đây là một trò đố: nắm một vật vào đó trong một tay và chìa hai nắm tay. Mở tay ra: đúng sai, có không....biết liền!

Ðám trẻ ngồi thành hàng ngang, duỗi hai chân ra trước. Một đứa ngồi đối diện, lấy tay đập vào từng bàn chan theo nhịp từng từ một của bài hát trên. Dứt bài, từ "rụt" đúng vào chân em nào thì phải rụt nhanh. Nếu bị tay của cái đập vào chân thì em đó thua cuộc: ra làm cái ván chơi kế tiếp, hoặc chịu hình phạt (nhảy lò cò một vòng, trồng chuối...) hay phải đứng ra làm cái cho một trò chơi khác (bịt mắt bắt dê, ú tìm, cá sấu lên bờ...)

Nu na nu nống
Cái cóng nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Bụt ngồi bụt khóc

Con cóc nhảy ra
Ông già ú ụ
Bà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Tè he chân rụt

Bài đồng dao này phổ biến khắp Bắc, Trung, Nam nhại theo âm trống tầm vông / tâm vinh (gọi theo Nghệ An) tức trống cơm:




Tập tầm vông
chị lấy chồng
em ở góa
chị ăn cá
em mút xương
chị nằm giường
em nằm đất
chị hút mật
em liếm ve
chị ăn chè
em liếm bát
chị coi hát
em vỗ tay
chị ăn mày
em xách bị
chị xe chỉ
em xỏ tiền
chị đi thuyền
em đi bộ
chị kéo gỗ
em lợp nhà
chị trồng cà
em trồng bí
chị tuổi Tý
em tuổi Thân
chị tuổi Dần
em tuổi Mẹo
chị kéo kẹo
em đòi ăn
chị lăng xăng
em ních hết
chị đánh chết
em la làng
chị đào hang
em chui trốn.


Cách chơi hiện nay của trò này là hai nguời chơi ngồi đối mặt nhau, vừa hát vừa theo nhịp đập lòng bàn tay vào nhau: hoặc đập thẳng, hoặc đập chéo, hoặc một cao một hạ thấp, hoặc kết hoẹp nhiều cách khác nhau. Nói chung, cách chơi rất giống trò Thìa la thìa lảy đây.

Xã Phú Sơn, Hà Tĩnh cử hành hội mùa xuân tại chùa xã ngày 14 và ngày rằm tháng giêng. Khi trong chùa đang lễ Phật, ngoài sân trai chưa vợ, gái chưa chồng tụ họp nhau dự trò chơi ném cầu để "bói" hôn nhân. Hai quả cầu dùng để ném vào lồng tre là hai quả chanh ngoài có lớp vỏ bện bằng mây bọc quanh: sơn màu xanh gọi là âm cầu và sơn màu đỏ trắng gọi là dương cầu. Trai và gái chia làm hai bên, mỗi bên có người cầm đầu. Hai bên hẹn ước với nhau rằng: "Trong hai nhóm chúng ta, hễ ai đã kết hôn mà ném được quả cầu vào trong lồng thì chỉ được thưởng; còn cặp nào chưa kết hôn mà ném trúng thì không những được thưởng mà còn hẹn sẽ cưới nhau. Nếu ai sai lời sẽ có Phật trời chứng giám". Giao hẹn xong, mấy cặp bắt đầu trò chơi. Trước khi ném cầu, trai gai lần lượt hát:

Cầu này là cầu thiên duyên
Ðôi ta mà trúng, kết nguyền cùng nhau


Trò vui kéo dài từ sáng đến chiều. Tuy là trò chơi nhưng mỗi lần một cặp trai gái có tình ý mà cùng ném trúng đều hứa hôn với nhau.

Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía mình. Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.

Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên".

Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Ðang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.

Trong các ngày hội, các làng thôn thường trồng một vài cây đu ở giữa thửa ruộng gần đình để trai gái lên đu với nhau.

Cây đu được trồng bởi bốn, sáu hay tám cây tre dài vững chắc để chịu đựng được sức nặng của hai người cùng với lực đẩy quán tính. Hai cây tre làm cần đu nhỏ vừa tay cầm.

Lên đu có thể là một hay hai người. Càng nhún mạnh, đu càng lên cao, cần đu đưa lên vun vút, bên nọ sang bên kia. Cần đu lên ngang với ngọn đu là hay nhất, nhiều khi đu bay ngang ngọn đu một vòng. Nhiều nơi treo giải thưởng ở ngang ngọn đu để người đu giật giải.

Nhún đu cũng là một sinh hoạt giao đãi tình cảm của trai gái.