Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Dưới đây là một đoạn trích rất hay về Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại Tiên Sinh phái Hành Sơn.

Gã lùn mập đáp:

- Người ngoài đều nói Lưu tam gia là đệ nhị cao thủ phái Hành Sơn, người trong bổn phái từ trên xuống dưới đều biết rõ 36 đường "Hồi phong lạc nhạn kiếm" của Lưu tam gia đã đến mực thông huyền, cao thâm hơn cả chưởng môn nhân là Mạc Ðại tiên sinh rất nhiều. Mạc Ðại tiên sinh phóng một nhát kiếm chặt đứt được đầu ba con nhạn lớn. Còn Lưu tam gia phóng một nhát kiếm lại chặt rơi đầu những năm con. Cả bọn đệ tử dưới trướng Lưu tam gia tên nào cũng thắng được môn hạ bọn Mạc Ðại tiên sinh. Tình thế hiện giờ đã mỗi lúc một dở bét, nếu còn kéo dài thêm mấy năm nữa thì thanh thế Mạc Ðại tiên sinh nhất định bị Lưu tam gia đè bẹp. Nghe nói hai bên đã mấy lần xảy cuộc xung đột ngấm ngầm. Lưu tam gia không muốn tranh chấp hư danh với sư huynh mình, y liền rửa tay gác kiếm để từ đây yên ổn làm một phú gia ông.

Mấy người gật đầu nói:

- Té ra thế. Lưu tam gia thâm hiểu nghĩa lớn. Trên đời hiếm có người như y.

Lại có người nói:

- Mạc Ðại tiên sinh làm thế không được. Y áp bức Lưu tam gia rời khỏi võ lâm thì có khác gì làm suy yếu thanh thế của phái Hành Sơn?

Hán tử mặc áo bào lụa cười lạt nói:

- Việc thiên hạ có bao giờ chu toàn hết cả mọi mặt được? Chỉ cần sao giữ vững ngôi chưởng môn là được. Còn lực lượng bản phái tăng cường cũng hay mà suy yếu cũng vậy, họ quan tâm làm cóc gì?

Gã lùn mập uống mấy hớp nước trà rồi cầm nếp bình gõ keng keng la lên:

- Lấy trà đây! Lấy trà đây!

Rồi gã nói tiếp:

- Ðó là việc lớn của phái Hành Sơn đã rõ ràng. Các môn phái đều có tân khách đến mừng. Chính phái Hành Sơn...

Gã nói tới đây thì đột nhiên ngoài cửa bật lên những tiếng "tình tang" của cây hồ cầm.

Rồi có người cất tiếng hát:

- Ðáng buồn cho Dương gia dốc dạ trung trinh ý y... Nhà Ðại Tống...ý y... phù trì ...ý y ...

Hắn kéo gân cổ lên mà ngâm, thanh âm nghe rất thê lương. Mọi người đều quay về nhìn hắn thì thấy là một lão già gầy như hạc, vẻ mặt khô queo, mình mặc áo dài bằng vải xanh ngồi ở bàn bên. Áo lão giặt nhiều lần màu xanh đã bạc phếch. Coi bộ dạng lão có vẻ rất điêu linh, chẳng khác một tên kép hát để kiếm tiền.

Gã lùn mập quát lên:

- Thanh âm như quỷ gào mà cũng đòi hát để cắt đứt câu chuyện người ta đang nói dở.

Lão già liền hạ thấp giọng xuống, miệng vẫn ấm ớ hát:

- Bắn kim sa ý y... hội song long ý y... thua một trận xiểng liểng ý y.....

Có người hỏi:

- Ông bạn đều nói các môn phái đều có tân khách đến mừng mà chính phái Hành Sơn thì làm sao?

Gã lùn mập đáp:

- Bọn đệ tử Lưu tam gia dĩ nhiên phải ở trong thành để đón khách. Nhưng trừ bọn đệ tử do đích thân Lưu tam gia truyền dạy, ngoài ra các vị có gặp một tên đệ tử nào khác trong phái Hành Sơn không?

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau rồi đồng thanh nói:

- Ðúng thế! Sao lại không thấy một tên nào? Làm như vậy chẳng bẽ mặt cho Lưu tam gia lắm ư?

Gã lùn mập nhìn hán tử mặc áo lụa cười hỏi:

- Tại hạ có muốn nói tôn giá nhát gan không dám nói toạc chuyện tranh chấp nội bộ phái Hành Sơn ra. Thực tình có can hệ gì đâu? Phái Hành Sơn không phái một người nào tới thì còn ai nghe thấy nữa? Việc gì mà sợ ?

Ðột nhiên tiếng hồ cầm lại dần dần vang lên.

Một lão già quát lên:

- Hắn đã tới rồi! Thật là vạ lớn!...

Gã tuổi trẻ cũng quát theo:

- Ðừng ở đây rắc rối nữa! Lấy tiền rồi đi đi!

Gã giơ tay lên một cái, một xâu đồng tiền bay ra đánh chát một tiếng rớt xuống, đúng trước mặt lão già không sai một chút. Thủ pháp gã rất chuẩn đích.

Lão cất tiếng tạ ơn rồi thu lấy tiền.

Gã lùn mập cất tiếng khen:

- Té ra lão đệ là một danh gia sử dụng ám khí mới liệng trúng thế.

Gã tuổi trẻ cười nói:

- Cái đó có chi đáng kể? Theo lời đại ca thì Mạc Ðại tiên sinh nhất định không đến ư?

Gã lùn mập đáp:

- Y đến làm chi? Y đã cùng Lưu tam gia thành thế nước lửa. Hễ gặp nhau là rút kiếm động thủ. Lưu tam gia nhượng bộ chắc là y mãn nguyện rồi.

Bỗng thấy lão già hát vừa rồi đứng lên từ từ tiến đến trước mặt gã lùn mập, nghẹo đầu nhìn gã một lúc.

Gã lùn mập tức giận hỏi:

- Lão làm trò gì vậy?

Lão kia lắc đầu đáp:

- Ngươi hay nói càn lắm!

Rồi lão trở gót đi ra.

Gã lùn mập cả giận, vươn tay ra định nắm sau lưng lão, thì đột nhiên trước mắt một luồng thanh quang lóe ra. Thanh trường kiếm nhỏ bé loang loáng trên bàn. Keng keng mấy tiếng vang lên.

Gã lùn mập giật mình kinh hãi vội nhảy lùi về phía sau vì gã sợ thanh trường kiếm đâm tới mình. Nhưng lão già từ từ cài thanh trường kiếm vào đáy hồ cầm, không nhìn thấy nữa. Nguyên thanh trường kiếm này dấu ở trong cây hồ cầm, không để chìa ra ngoài nên không ai trông thấy. Ngờ đâu trong cây hồ cầm cũ rích lại dấu một thứ binh khí lợi hại như vậy.

Lão già lắc đầu nhắc lại câu: "Ngươi hay nói càn lắm." rồi từ từ ra khỏi quán trà.

Mọi người đưa mắt nhìn theo bóng sau lưng lão mất hút trong làn mưa. Tiếng hồ cầm thê lương còn văng vẳng vọng lại.

Bỗng có người cất tiếng la hoảng:

- Các vị coi kìa! Các vị coi kìa!

Mọi người nhìn theo tay gã trỏ thì thấy trên bàn gã lùn mập có đặt bảy chiếc chén trà mà chiếc nào cũng hớt tày nửa tấc. Những miệng chén này đều biến thành những vòng tròn trĩnh. Bảy cái vòng sứ rớt xuống bên chén mà những chén nước vẫn còn nguyên không nghiêng đổ một cái nào.

Mấy chục người trong quán trà đều bâu cả lại nghị luận xôn xao.

Có người hỏi:

- Người ấy là ai mà kiếm pháp ghê gớm đến thế?

Có người nói:

- Một nhát kiếm chém đứt bảy miệng chén trà mà không chén nào đổ thì thủ pháp thật là thần diệu.

Có người quay lại nhìn gã lùn mập nói:

- May mà vị lão tiên sinh này hãy còn nhân nhượng, không thì cả đầu lão huynh cũng chẳng khác gì bảy chén trà kia.

Lại có người nói:

- Lão tiên sinh đó dĩ nhiên là một tay cao thủ nổi danh mà sao kiếm thức cũng như người thường?

Gã lùn mập nhìn bảy chiếc miệng chén trà đứt ra vẻ mặt thẫn thờ, mặt không còn chút huyết sắc. Những câu người đứng bên nói dường như gã không nghe thấy gì.

Người đứng tuổi mặc áo lụa nói:

- Thấy chưa! ta đã khuyên tôn giá là ít mồm miệng chớ. Thị phi chỉ tại ngươi nhiều chuyện, phiền não là do tính hiếu danh. Hiện giờ thành Hành Sơn là nơi rồng ẩn cọp nấp, những cao nhân đến đây không biết bao nhiêu mà kể. Lão tiên sinh này chắc là bạn thân của Mạc Ðại tiên sinh. Lão thấy tôn giá nghị luận Mạc Ðại tiên sinh nên cho một bài học đấy.

Lão râu bạc họ Bành bỗng lạnh lùng lên tiếng:

- Cái gì mà bạn thân với Mạc Ðại tiên sinh? Chính Tiêu tương dạ vũ Mạc Ðại tiên sinh đó chứ có phải ai đâu?

- Sao? Mạc Ðại tiên sinh đấy ư? Sao các hạ biết?

Lão râu bạc đáp:

- Lão phu biết chứ. Mạc Ðại tiên sinh ưa gảy khúc Tiêu tương dạ vũ, một khúc nhạc thê lương khiến người nghe phải trào lệ. Tám chữ "Ðàn dấu trong kiếm, kiếm phát tiếng đàn" là để mô tả võ công của lão. Các vị đã đến thành Hành Sơn sao còn chưa biết? Vị huynh đài đây vừa nói những gì Lưu tam gia một kiếm chém đứt đầu năm chim nhạn, Mạc Ðại tiên sinh chỉ chém được ba nên lão lia nhát kiếm hớt bảy miệng chén trà. Chén trà còn chém đứt thì chém nhạn khó gì? Vì tiên sinh đã mắng huynh đài là hay nói càn.

Gã mập lùn chưa hết sợ hãi, cúi đầu xuống không dám trả lời. Hán tử mặc áo lụa tính trả tiền trà rồi kéo gã đi.

Mọi người trong quán trà thấy Tiêu tương dạ vũ Mạc Ðại tiên sinh thi triển thần công trên đời có một thì chẳng ai là không hồi hộp trong lòng. Họ đều nghĩ bụng:

- Vừa rồi gã lùn mập ca ngợi đức độ Lưu Chính Phong và buông lời dàm pha Mạc Ðại tiên sinh rồi mình cũng lên tiếng phụ họa. Thật là thị phi chỉ tại nhiều mồm miệng. Không chừng vì mấy câu nói vô mà mình rước vạ vào thân .

Bây giờ họ thấy người đứng tuổi mặc áo lụa kéo gã lùn mập lật đật đi ngay thì ai nấy cũng tính trả tiền trà xong ra khỏi quán. Chỉ trong khoảnh khắc, quán trà đang đầy khách ồn ào trở lại vắng teo.

Lâm Bình Chi nhìn bảy cái miệng chén nghĩ thầm:

- Lão này lia thanh trường kiếm mà hớt đứt bảy miệng chén trà! Nếu mình không ra khỏi Phúc Châu thì làm gì biết được trên đời có những nhân vật ly kỳ như vậy? Mình ru rú ở Phước Oai tiêu cục chẳng khác chi ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung vẫn tưởng những tay hảo thủ giang hồ dù lợi hại đến đâu bất quá chỉ tương tự như gia gia là cùng! Hỡi ôi! Mình có thờ lão này làm thầy rèn luyện võ công thì may ra mới báo được mối thù lớn kia, bằng không thì phải suốt đời ôm hận.

Nhắc tới Tiếu Ngạo Giang Hồ,ta có thể thấy có một dấu ấn của Tiêu Dao phái trong tác phẩm này,đó là khúc đàn Tiêu Tương Dạ Vũ.

Tiêu Tương Dạ Vũ - Có nghĩa là Đêm mưa trên bến Tiêu Tương.Được sáng tác bởi Mạc Đại Tiên Sinh,chưởng môn phái Hành Sơn trong tác phẩm Tiếu Ngạo Giang Hồ.Người giang hồ miêu tả ông như sau: Ông là một ông lão,ngoài 60 râu tóc bạc phơ.Luôn xuất hiện với bộ dạng của một kẻ ăn mày nét mặt đau khô,tay cầm cây hồ cầm,bên trong cây hồ cầm là một thanh mỏng được giấu cẩn thận.Ông là người giỏi âm nhạc lẫn kiếm pháp.

Mạc Đại tiên sinh lần đầu tiên xuất hiện trong phần đầu của Tiếu ngạo giang hồ khi Lâm Bình Chi trên đường tìm cha mẹ ngồi ở quán rượu trong thành Hành Dương nghe mọi người bàn tán về việc Lưu Chính Phong ngày mai quy ẩn giang hồ. Đám đông trong quán trọ bàn tán về mối bất hòa giữa Lưu Chính Phong, sư đệ của Mạc Đại và Mạc Đại tiên sinh. Người ta đồn rằng Mạc Đại ghen tức với sư đệ mình là Lưu Chính Phong-tác giả của bản Tiếu ngạo giang hồ vì tài nghệ kiếm thuật kém hơn sư đệ mình. Lưu Chính Phong nổi danh với 36 đường Hồi phong lạc nhạn kiếm, một kiếm rút ra lia đứt đầu 3 con nhạn lớn. Đúng lúc đó, một ông lão ăn mày gầy gò xuất hiện, tay cầm chiếc hồ cầm đi qua chửi những kẻ bàn tán là nói càn, chỉ thoáng thấy tay lia chiếc dao cầm rồi đi khuất. Khi ông ta đi khỏi, trên bàn lăn lóc 7 chiếc chén trà bị kiếm chém đứt. Qua tiếng đàn thấp thoáng để lại, người ta nhận ra đó chính là Mạc Đại tiên sinh với khúc Tiêu tương dạ vũ bi thương, với danh hiệu Cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm thanh có nghĩa là Trong đàn giấu kiếm, kiếm phát tiếng đàn. Điều này chứng tỏ những lời đồn về việc ông ghen tị với sư đệ của mình do kém về kiếm thuật là hoàn toàn bịa đặt.

Trở lại với khúc Tiêu Tương Dạ Vũ đây là một khúc đàn mang đầy nỗi bi ai,u sầu.Khác với khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ mang đầy âm hướng hùng tráng ,phiêu lãng và tự tại.Cũng vì đó mà gây nên sự bất đồng quan điểm giữa Mạc Đại và Lưu Chính Phong.

Qua giai thoại về Tiêu Tương Dạ Vũ trên chúng ta lại biết được nguồn gốc của một chiêu thức nữa của Tiêu Dao.

Hoàng là người đất Canh Tang, làng Võ Hà Hữu. Từ thuở nhỏ đã nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, lại có tài xuất khẩu thành thi. Gia tộc Hoàng vốn nổi tiếng về kiếm thuật. Tương truyền tổ tiên Hoàng có duyên gặp một bậc dị nhân truyền cho pho kiếm thuật thời thượng cổ. Từ đó đời đời nối tiếp nhau luyện kiếm. Ông tổ của Hoàng đã từng có lần một mình đơn kiếm ra khơi, vào tận sào huyệt của hải tặc để trả thù cho một người bạn, uy danh chấn động cả thiên hạ. Kiếm thuật đến đời Hoàng là tập đại thành. Nhiều tay kiếm khắp nơi hâm mộ danh Hoàng tìm đến so tài nhưng tất cả đều bại dưới tay Hoàng. Nhờ tính Hoàng khoáng đạt, so kiếm chỉ để tìm chổ tận diệu của kiếm thuật nên tất cả những kẻ bại trận đều không đem lòng thù hận.

Gia cảnh Hoàng rất thanh bần. Hoàng sống một mình với một lão bộc trung thành bên sườn đồi, suốt ngày chỉ đam mê luyện kiếm, đến nỗi thiên hạ tặng cho danh hiệu Kiếm cuồng. Hoàng giỏi kiếm lẫn thơ nên rất hâm mộ cao phong của Lý Bạch. Hoàng sáng tác bài Hoa Trích tiên ngâm để nói lên tấm lòng hoài mộ của mình. Bài đó được truyền tụng khắp nơi, các danh sĩ đều cho đó là thần bút. Bạn bè có người nói:

- Tài hoa như ông, văn cũng như võ, nếu đi thi thì nắm chắc cái chức Trạng nguyên. Sao ông không thử xuôi kinh ứng thí một lần?

Hoàng cười đáp:

- Chúng ta sinh ra ở thời thiên hạ thái bình, lại có đấng minh quân trị đời. Thử hỏi có Hoàng thì thiên hẹ thêm được gì, mà không có Hoàng thì thiên hạ mất gì? Vả lại tính tôi không ưa ràng buộc, chỉ muốn nghiên cứu tìm hiểu chổ tận diệu của kiếm đạo thì có chết cũng cảm thấy không uổng phí bình sinh.

Một hôm, trời đổ tuyết lạnh buốt, Hoàng đang luyện kiếm đến chỗ cao hứng, kiếm quang vùng vẫy như con bạch long giữa trời, bỗng nhiên nghe có tiếng thở dài:

- Hỡi ơi! Thật đáng tiếc! Thật đáng tiếc!

Hoàng giật mình, dừng kiếm, nhìn ra cổng thấy một ông lão đội nón tơi, dáng dấp thanh kỳ đang đứng dưới trời tuyết nhìn mình. Hoàng vội vã mời vào nhà, hối lão bộc bày rượu. Sau khi phhân ngôi chủ khách, Hoàng kính cẩn hỏi họ tên, ông lão chỉ mỉm cười không nói. Hoàng, hai tay nâng kiếm, thưa:

- Vãn sinh mê kiếm hơn cả sinh mạng, có điều tư chất ngu muội nên chỉ đáng làm trò cười cho bậc cao minh, hôm nay run rủi có tiền bối ghé thăm, rất mong được chỉ giáo.

Ông lão cười rộ đáp:

- Họ Hoàng đất Canh Tang nổi tiếng thi kiếm vô địch, ai lại chẳng biết, hà tất phải nói những lời khách sáo? Già này nào có biết gì về kiếm, chỉ vô tình buột miệng nói càn mấy câu mà thôi.

Hoàng cứ khẩn khoản mãi. Ông lão uống cạn chung rượu xong nói:

- Nể lời công tử, già này đành liều phô cái dở của mình ra.

Ông lão bèn đỡ thanh kiếm, ngưng thần trong khoảng thời gian uống cạn nửa tuần trà rồi đột nhiên vung tay một cái. Chỉ thấy kiếm quang lấp lánh trên bàn rồi tắt. Trong thâm tâm Hoàng mong đợi một đều kỳ diệu xảy ra, nên thấy chỉ có thế thì hơi thất vọng, nhưng không dám nói ra. Ông lão đặt thanh kiếm xuống bàn rồi ngâm:

“Mỏi gót lê chân khắp đất trời
Mắt xanh dõi hết mấy trùng khơi
Nơi nơi chỉ thấy người múa kiếm
Nào biết tìm đâu kiếm múa người.”


Ngâm xong ông chắp tay từ tạ, nài nỉ thế nào cũng không được. Tiễn khách xong, Hoàng vào nhà định uống rượu tiếp để luyện kiếm, tay vừa chạm vào chén rượu thì bỗng giệt mình toát cả mồ hôi. Toàn bộ các vành chén rượu đều đã bị đường kiếm tinh ảo của ông lão gọt đứt mà không rơi hẳn ra bàn! Hoàng kinh hãi chạy theo thì chỉ thấy tuyết bay mù mịt, không thấy bóng dáng ông lão đâu. Ngẫm lại bài thơ, Hoàng mới biết đó là lời chỉ giáo, bao nhiêu tráng khí hùng tâm bỗng nhiên tan biến.

Từ đó, Hoàng đóng cửa tạ khách, ngày đêm nghiền ngẫm kiếm phổ. Ba năm sau kiếm thuật tăng tiến rất nhiều nhưng Hoàng tự biết chưa đạt đến chỗ tận diệu nên quyết tâm đi tìm ông lão ngày xưa để mong được chỉ giáo.

Trải qua năm năm trời lang bạt kỳ hồ, đi mòn không biết bao nhiêu đôi giầy cỏ, đi khắp nơi từ kinh thành, phố thị đến hoang mạc, non cao đều có dấu chân Hoàng nhưng ông lão vẫn biệt tích. Một hôm Hoàng đến một vùng sơn cước thì trời đã ngả bóng. Phong cảnh nơi đây vô cùng thanh tao, tiêu sái. Đi men theo con suối một lúc thì thấy thấp thoáng một ngôi nhà trúc. Hoàng vội đến định xin trú tạm qua đêm. Vừa đến nơi, chưa kịp gõ cửa sài, đã thấy một ông lão ra đón, miệng cười hỏi:

- Chẳng phải họ Hoàng đất Canh Tang đó ư?

Nhìn lại thì thấy đúng ông lão ngày trước, Hoàng mừng khấp khởi, toan quỳ lạy ra mắt, nhưng ông lão đã cản và mời vào nhà. Vật dụng bên trong nhà toàn bằng trúc, bày biện cực kỳ u nhã. Trên án thư thấy để vài cuốn sách. Trên bức vách trúc treo một cây dao cầm. Hoàng thấy lòng lâng lâng như lạc vào cõi khác.

Ông lão chỉ lưu Hoàng ở lại chứ tuyệt nhiên không thấy nói gì về kiếm. Sáng hôm sau, Hoàng bèn đem kiếm phổ trình lên nhờ ông lão giải đáp những điều chưa hiểu. Ông lão cầm kiếm phổ, lướt nhìn qua rồi bỗng nhiên xé vụng và ném tung ra ngoài cửa trúc như một đàn bướm. Hoàng nhì theo các mảnh giấy bay, tâm thần hoảng hốt, la lên:

- Tiền bối không biết kiếm phổ đó là di vật cực quý thời thượng cổ ư? Kiếm thuật nhà vãn bối cũng đều nhờ vào đó mà đương danh thiên hạ. Sao tiền bối lại hủy đi?

Ông lão cười rộ, bảo:

- Người đọc sách nhiều mà sao chậm hiểu thế. Trước đây ta cho ngươi là kẻ thông tuệ, muốn cầu tìm chỗ ảo diệu của kiếm đạo, đâu hay cũng là phường bị thịt, trích cú tầm chương. Trên đời này có hàng ngàn kiếm phổ, chẻ lẽ người cũng ráng tìm đọc cho hết ư? Dẫu cho người có thọ vạn tuổi cũng không làm được điều đó. Giả sử không có một kiếm phổ nào thì kiếm thuật trên đời này tự tiêu vong đi chăng? Ta hỏi người cái diệu lý của kiếm thuật há có liên quan gì đến ngữ ngôn văn tự?

Hoàng như người chiêm bao sực tỉnh, mình toát mồ hôi đầm đìa, quỳ xuống thưa:

- Đệ tử ngu muội, kính nhờ tiền bối chỉ đểm.

Ông lão từ tốn bảo:

- Nhà ngươi vốn thông tuệ nhưng chỉ mới đăng đường chứ chưa nhập thất. Ngươi đọc Nam Hoa kinh, mà sao không nhớ đến chuyện Trang Tử hoá bướm. Trang Tử năm mới thấy mình hoá thành bướm? Tỉnh dậy không biết là mình hoá ra bướm hay bướm hóa ra mình? Ngươi chỉ lo tập múa kiếm, sao không một lần thử để cho kiếm “múa” nhà ngươi?

Hoàng hốt nhiên tỉnh ngô, xin ở lại hầu hạ. Suốt ngày ngồi tĩnh tọa, quán tưởng về kiếm. Một đêm trăng, Hoàng đang luyện kiếm, bất giác đi vào cảnh giới vô ngã, nghe lâng lâng như siêu thoát, kiếm chiêu cứ tuỳ tâm niệm mà thu phát, như nước chảy mây bay, không có gì ngần ngại. Hoàng cao hứng hát:

“Nhấp nhô con sóng
Lấp lánh hạt sương
Kiếm ta làmcơn gió
Bỗng hóa thành ánh trăng
Ta nương theo ánh sáng
Vút bay theo cánh bằng
Bao năm học kiếm mà đâu hiểu
Ta là kiếm hay kiếm là ta
Hôm nay chợt tỉnh giấc
Phiêu diêu cõi bao la.”


Được một năm, ông lão gọi Hoàng lại bảo:

- Ngươi luyện kiếm đến đâu rồi?

Hoàng thưa:

- Đệ tử luyện kiếm quên hẳn thân mình, Không còn biết là đệ tử múa kiếm hay là kiếm múa đệ tử nữa.

Ông lão bảo:

- Cái không biết ấy cũng vẫn còn là biết đấy. Kiếm thân hợp nhất mới chỉ là ngã rẽ tạm thời, chưa đạt đến chỗ tận diệu của kiếm đạo. Ngươi hãy trở lại trạng thái tâm khi ngươi mới đến đây mới là hay.

Hoàng cung kính lui ra, không luyện kiếm nữa mà chỉ lo các công chuyện vặt vãnh hằng ngày. Ngày ngày ra suối gánh nước, đốn củi, nấu cơm.

Được một năm, ông lão bỗng nhiên bỏ đi đâu mất, để lại cho Hoàng một bài thơ từ biệt:

“Khi mới luyện kiếm, thấy kiếm là kiếm, thấy ta là ta.
Khi được bậc cao minh chỉ điểm cho đường vào, thấy kiếm chính là ta và ta chính là kiếm. Khi đạt được chỗ diệu lý của kiếm đạo, lại thấy kiếm chính là kiếm và ta chính là ta.”

Thời gian sau, người ta thấy Hoàng gánh củi vô chợ bán, được tiền thì uống rượu, say rồi lại ngâm thơ, chứ không nghe bàn gì đến kiếm nữa.

Tác giả: Huỳnh Ngọc Chiến