Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Họ và tên khai sinh: Phan Ngọc Hiển, sinh năm 1910; bút danh khác: Phan Phan; quê quán: Phường Cái Khế, TP.Cần Thơ; đảng viên ĐCSVN.

Là một học sinh yêu nước - một thầy giáo - nhà báo - nhà hoạt động chính trị, Phan Ngọc Hiển trong khoảng thời gian mười năm đã làm nên những điều kỳ diệu, để đời, nổi bật hai sự kiện lớn:

Hưởng ứng Nam Kỳ khởi nghĩa, Phan Ngọc Hiển trực tiếp tổ chức, lãnh đạo đánh chiếm đảo Hòn Khoai từ tay giặc Pháp ngày 13/12/1940. Sau cuộc khởi nghĩa thắng lợi trở về đất liền, Phan Ngọc Hiển và 9 đồng đội bị thực dân Pháp bắt rồi sau đó đưa ra pháp trường xử bắn. Trước pháp trường giữa lòng thị xã Cà Mau, Phan Ngọc Hiển hiên ngang vứt mảng khăn đen trên mặt, đả đảo thực dân Pháp xâm lược, kêu gọi đồng bào tiếp tục cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, tỏ rõ khí phách của một đảng viên Đảng cộng sản (Phan Ngọc Hiển hy sinh ngày 12/7/1941 tại thị xã Cà Mau).

Phan Ngọc Hiển đã để lại nhiều công trình báo chí, văn học có giá trị, hiện đã tập hợp khoảng 70 tác phẩm thuộc thể loại báo chí, văn học trên Tuần báo Tân Tiến (một tờ báo trong vùng địch tạm chiếm), phát hành vào những năm 1936, 1937, trong đó có khoảng 20 bút ký, phóng sự, tùy bút, tiểu thuyết (Theo “Tác phẩm Phan Ngọc Hiển” do NXB Mũi Cà Mau và Hội Nhà báo tỉnh Minh Hải ấn hành năm 1996).

Trên lĩnh vực văn học, phần lớn các tác phẩm của Phan Ngọc Hiển là văn xuôi, tác phẩm đã được xuất bản: Tiểu thuyết Mương đào ổ yến; những bút ký, phóng sự, truyện ngắn: Đêm ở kinh đô Hậu Giang, Trên sông lao động, Ông Gát-đen-quan một, Đêm kỷ niệm, Thuyền ngược nước, Thằng Đại, Hồn bơ vơ, Tình quê...

Xin trích đăng truyện ngắn Hồn bơ vơ, đoạn viết về một người vợ (cô Mai) đi tìm chồng, gặp một ông già tốt bụng trên đảo Hòn Khoai, Cà Mau.

HỒN BƠ VƠ

... Mai nhìn lão già như để tìm chơn tướng. Khi nhận được lời nói nhơn từ, nghiêm chỉnh, Mai bèn trả lời mềm dịu:

- Thưa bác, có lời bác dạy bảo, mẹ con cháu mới dám đùm đậu đêm nay.

Thức tỉnh con dậy, cả ba nương ánh đèn chai về bãi.

Nhà lão già đơn sơ mà thật sạch sẽ. Lão lăng xăng dọn dẹp chỗ cho mẹ con Mai nghỉ ngơi.

- Cô ở đâu đến? Và đến đây có ý tìm ai?

Mủi lòng, động vết thương tâm, Mai đã ràn rụa nước mắt. Bấy giờ, bộn bàn người lân cận tựu đến. Mai bệu bạo:

- Cháu chẳng giấu gì bác, cách tám năm về trước, chồng cháu ra đây làm cái đường lên chót Hòn, chẳng hiểu tại sao càng ngày càng biệt, nên cháu dẫn con không ngại nhọc nhằn ra đây tìm chồng!

Lão già dòm Mai ra vẻ tội nghiệp, rồi lão kêu “Trời ơi” rất lớn, làm mọi người chưng hửng. Rồi tự nhiên lão đứng giữa nhà khóc rống lên! Cả mọi người càng ngạc nhiên, nhứt là Mai lấy làm lạ lắm. Hết khóc, lão lại bàn thờ thắp ba cây nhang, đoạn lão tiếp:

- Thôi rồi cô ơi! Còn gì! Chồng cô chắc chết rồi!

Mai rú lên tiếng “trời” thứ nhì, ôm mặt khóc mùi mẫn. Ôi! Cảnh khốn nạn! Động đến trời nên u ám, kế mưa to nước xuống xối xả như đua chảy với mấy chục hàng lệ thương tâm! Chim đêm trên rừng kêu lăng líu, tứ bề gió thổi hãi hùng như điên dại, như tức tối .. rồi trơ giọng thảnh thót như đau thương, rồi dìu dịu reo như khuyên dỗi...

(Tác phẩm Phan Ngọc Hiển – NXB Mũi Cà Mau – Hội Nhà báo tỉnh Cà Mau, năm 1996, trang 196).

Lịch sử của hơn ba trăm năm mở đất của vùng đất Nam Bộ đã gắn liền mồ hôi, nước mắt và máu của biết bao thế hệ, những công dân Việt Nam ở mọi miền đất nước, của các cộng đồng dân tộc anh em đã sinh trưởng ở nơi đây ... đã sống, chiến đấu, chung lưng đấu cật cho sự màu mỡ của vùng đất phương Nam. Đất phương Nam – nơi mà những con sông như còn soi bóng dáng của người anh hùng với chiến công lừng lẫy, đã đốt cháy tàu giặc Pháp năm 1861. Cái đẹp diệu kỳ ở đây là những di tích bên ngoài không lộng lẫy, hoàng tráng, mà vẫn ôm ấp trong lòng biết bao huyền tích về mảnh đất phương Nam. Người anh hùng mà Trường ta được vinh dự mang tên : Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực sinh năm Mậu Tuất (1838) người phủ Tân An, ông tên thật là Nguyễn Văn Lịch, lúc nhỏ tên là Chơn, đến năm Kỷ Mùi (1859) đổi tên là Đội Lịch, tới năm Tân Dậu (1861) người ta gọi là Quản Lịch, sau đó đốt tàu Espérance, Quản Lịch đổi tên là Nguyễn Trung Trực, tên này được gọi từ năm 1862 cho đến khi Người mất (1868).

Năm 1868 khi thực dân Pháp xâm lược đất nước ta, thực dân thì tham tàn, triều đình Huế thì bất lực, một làn sóng căm hờn nổi dậy, lôi cuốn bao nhiêu sĩ phu, dân chúng của miền đất phương Nam khởi nghĩa - Với Trương Công Định, khởi nghĩa đuổi quân Pháp ra khỏi Gò Công (1862), Thủ Khoa Huân đánh phá Pháp vùng Mỹ Tho (1863), Võ Duy Dương dấy binh vùng Đồng Tháp Mười (1866) ...

Trong hàng lãnh tụ nghĩa quân, người dân đất phương Nam nầy rất trân trọng ông Nguyễn Trung Trực, vị anh hùng trung, hiếu, tiết nghĩa vẹn toàn, mọi người kính trọng ông ở điểm ông tuy thuộc thành phần bình dân (ông làm ruộng và đánh cá), nhưng tấm lòng vị quốc, vị dân không thua một ai trong thời của ông. Những chiến công rạng rỡ, tấm gương chiến đấu dũng cảm của Người là những tia hồi quang của một thời kỳ lịch sử rực rỡ đã qua mà vị ngọt vẫn còn đọng mãi trong tâm hồn của nhiều thế hệ trẻ.
Chiến công đầu tiên của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là đốt phá tàu Espérance của Pháp.

Ngày 11/12/1861, tàu Espérance hạ neo ở bến Nhật Tảo gần Sài Gòn nhưng thuộc tỉnh Tân An, khi đó chỉ huy tàu là trung tướng Parfait.

Nguyễn Trung Trực đã khéo bày một kế hoạch đánh phá chiến hạm Espérance rất hay. Ông tổ chức một đám cưới dùng thuyền đi trên sông, trong đó có chú rể cô dâu, họ hàng già trẻ đủ mặt và cả lễ vật. Lúc nầy thuyền binh của Pháp đóng ở sông Nhật Tảo có lệ khám xét các thuyền của ta qua lại và phải trình thẻ bài do chính Pháp cấp.

Khi thuyền cưới tới gần thuyền của Pháp, một người vờ lên trình thẻ bài, quân Pháp không ngờ, tức thì ông Nguyễn cùng nhóm thủ hạ nhảy lên theo đánh chém lung tung, cùng lúc đó nhiều thuyền chở rơm và bổi của nghĩa quân cũng vừa ào tới nổi lửa lên đốt tàu Pháp, quân Pháp vì không đề phòng nên bị chém chết và bị thương vô số, trong chớp nhoáng tàu Pháp cháy to và nghĩa quân đều lội lên bờ tẩu thoát.

Giặc kêu la ầm ỉ, lửa bốc ngút trời, máy tàu nổ tan tành. Kết quả 17 tên Pháp thiệt mạng cùng 20 tên lính tập cũng chết theo. Tàu chìm còn trơ cái sườn sắt, ngập một nửa dưới nước. Xong chiến công oanh liệt, nghĩa quân đã rút về Cà Mau, quân Pháp cho quân đội lùng khắp, nhưng ông Nguyễn cùng các nghĩa quân đã biệt dạng từ bao giờ.
Ngoài chiến công ở sông Nhật Tảo, Nguyễn Trung Trực còn tổ chức tấn công địch tại Vàm Răng, đánh chiếm thành Kiên Giang, quân Pháp hoảng hốt chạy ra ngoài đã bị nghĩa quân và dân chúng chém giết, cuộc xáp chiến này từ Cô Tô sang núi Tượng.

Biết Nguyễn Trung Trực là người rất có hiếu, Pháp dùng thủ đoạn bắt giữ thân mẫu của Người và một số đồng bào trong vùng, rồi ra lệnh nếu Nguyễn Trung Trực không ra hàng sẽ đem những người này ra chém đầu. Nhận thấy việc kháng Pháp không thể kéo dài thêm nữa, vả lại cần cứu sống hàng trăm nhân mạng, Nguyễn Trung Trực cam đành giải tán nghĩa quân rồi tự mình ra nạp mạng cho Pháp.

Quân Pháp bắt được Ông vô cùng mừng rỡ, lập tức đưa về Sài Gòn để soái phủ Nam kỳ định đoạt.

Thấy Người trung hiếu, khẳng khái, Pháp không nở giết và dụ qui thuận, hứa nếu ông nhận lời sẽ cho làm chức phó soái.

Ông nói : “Tụi bây hãy kiếm cho tao cái chức gì giết Tây được thì tao làm, chớ chức phó soái tao không màng”.

Khuyến dụ hết sức không được, người Pháp buộc lòng phải hạ lệnh trảm quyết Ông.
Ohier ra lệnh chở ông Trực về Rạch Giá, ông Nguyễn Trung Trực bị đem hành quyết tại Rạch Giá ngày 27/10/1868 (tức ngày 28/08 Âm lịch). Trước giờ hành hình, ông Nguyễn có một bài thơ tuyệt mệnh như sau :

Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên
Yêu gian đảm khí hữu long tuyền
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Báo hận thâm cừu bất đái thiên.
Thi sĩ Đông Hồ đã dịch :
Theo việc binh nhung thuở trẻ trai
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài
Anh hùng gặp phải hồi không đất
Thù hận chang chang chẳng đội trời.

Để ca ngợi công nghiệp lẫy lừng của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người dân lục tỉnh đều thuộc lòng câu :

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.


Thật là lửa Nhật Tảo thiêu đốt phường cướp nước ngập cả đất trời, kiếm Kiên Giang vung lên làm cho quỷ sợ thần kinh.

Mãi mãi ngàn đời sau tên tuổi của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực vẫn chói lòa trong Quốc sử.

Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học.
Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm 1784)...

Lê Quý Đôn mất ngày 1-5-1784 tại quê mẹ, làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông được đưa về mai táng ở quê nhà.

Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, có mấy sự kiện sau có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp trước tác, văn chương của ông. Đó là chuyện đi sứ Trung Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn lận với họ những vấn đề sử học, triết học... Học vấn sâu rộng của ông được các học giả Trung Quốc, Triều Tiên rất khâm phục. ở đây, Lê Quý Đôn có dịp đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học... Đó là các đợt Lê Quý Đôn đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế... Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời như vậy mà kiến thức Lê Quý Đôn trở nên phong phú vô cùng. Ông viết trong lời tựa sách Kiến văn tiểu lục: "Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách".

Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải kể đến thời đại mà Lê Quý Đôn sống. Và ông là đứa con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại.

Lê Quý Đôn sống ở thế kỷ thứ 18 thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam đầy mâu thuẫn khi ấy đang nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp có cơ hội phát triển... Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học. ở thế kỷ 18, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác... Đồng thời các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có những bộ óc bách khoa và Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người "tập đại hành" mọi tri thức của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức cao nhất ở thế kỷ thứ 18 đều được bao quát vào trong các tác phẩm của Lê Quý Đôn. Tác phẩm của ông như cái mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa của cả một thời đại với tất cả những ưu điểm cùng nhược điểm của nó.

Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn còn giữ được có thể kể ra như sau:

- Quần thư khảo biện, tác phẩm chứa đựng nhiều quan điểm triết học, lịch sử, chính trị được viết trước năm ông 30 tuổi.

- Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn làm xong lúc ông 30 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

- Đại Việt thông sử, còn gọi Lê triều thông sử, là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.

- Kiến văn tiểu lục, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

- Phủ biên tạp lục, được viết trong thời gian Lê Quý Đôn làm Hiệp trấn Thuận Hóa. Nội dung ghi chép về tình hình xã hội. Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.

Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Đôn là bộ Toàn Việt thi lục 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực (1509 - 1516). Lê Quý Đôn hoàn thành Toàn Việt thi lục năm 1768, dâng lên vua, được thưởng 20 lạng bạc.

Về sáng tác văn xuôi, theo Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn có Quế Đường văn tập 4 quyển, nhưng sách này đã mất. Về sáng tác thơ, Lê Quý Đôn để lại có Quế Đường thi tập khoảng vài trăm bài làm ở trong nước và trong thời gian đi sứ Trung Quốc.

Nhận xét tổng quát về thơ Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú viết: "Ông là người học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên..., không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia".

Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn được tổng hợp lại như sau: "Làm thơ có 3 điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà động vào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần... đại để không ngoài ba điểm ấy".

Đây là những tiêu chuẩn về thơ mà Lê Quý Đôn đề ra cho quá trình sáng tác của mình. Đọc thơ Lê Quý Đôn, chúng ta thấy thơ ông thật phong phú đa dạng, sâu sắc về tư tưởng, nghệ thuật và để lại trong lòng ta những xúc động đẹp đẽ, sâu xa:

Thành cổ lộng

Thành hoang tường đổ đã bốn trăm năm,
Dây dưa, dây đậu leo quấn xanh tốt.
Sóng biết đã rửa sạch nỗi hận cho vua Trần,
Cỏ xanh khó che lấp sự hổ thẹn của Mộc Thạnh.
Sau trận mưa bò vàng cầy bật gươm cũ,
Dưới trăng chim lạnh kêu bên lầu tàn.
Bờ cõi cần gì phải mở rộng mãi
Đời Nghiêu Thuấn xưa chỉ có chín châu thôi.

Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán.


Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.

Năm 1400, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nô, hạn điền, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tế.

Cũng năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược Việt Nam. Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốc.

Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.

Nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:

- Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?

Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước.

Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc.

Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi. Ông gặp vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang. Ông trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách.

Trong bài tựa ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh cho biết: Bình Ngô sách "hiến mưu trước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người".

Lê Lợi khen chiến lược của Nguyễn Trãi là đúng. Và ông đã vận dụng chiến lược này để đánh quân Minh. Từ đây, ông thường giữ Nguyễn Trãi gần bên mình để cùng bàn mưu tính kế đánh quân Minh.

Cuối năm 1426, Lê Lợi lập bản doanh ở bến Bồ Đề (Gia Lâm). Tại đây, ông cho dựng một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quan. Lê Lợi ngồi tầng thứ nhất của chòi, Nguyễn Trãi ngồi tầng thứ hai. Hai nhân vật luôn luôn trao đổi ý kiến với nhau.

Trong kháng chiến, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh được giặc, cứu được nước. Khi kháng chiến đã thắng lợi, ông cũng thấy rằng phải lo đến dân, thì mới xây dựng được đất nước. Trong tờ biểu tạ ơn được cử giữ chức Gián nghị đại phu tri tam quân sư, ông đã viết: "Chí những muốn, việc cố nhân đã muốn: để tâm dân chúng, mình lo trước điều thiên hạ phải lo".

Năm 1437, khi vua Lê Thái Tông cử ông định ra lễ nhạc, ông cũng nói cho vua biết những điều mà vua phải làm trước hết là chăn nuôi nhân dân:

- Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc.

Do luôn luôn "lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ", Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh (góc thành Nam lều một gian). Khi ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắc, nhà của ông ở Côn Sơn "bốn mặt trống trải, xác xơ chỉ có sách là giàu thôi" (thơ Nguyễn Mộng Tuân, bạn Nguyễn Trãi).

Bài Bình Ngô đại cáo của ông là một "thiên cổ hùng văn". Đó là một thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc.

Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi là những thư từ do ông viết trong việc giao thiệp với quân Minh. Những thư này là những tài liệu cụ thể chứng minh đường lối ngoại giao vào địch vận hết sức khéo léo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi làm cho quân Lam Sơn không mất xương máu mà hạ được rất nhiều thành.

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn giữ được. Tác phẩm này rất quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam và lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.

Năm 1442, cả gia đình ông bị hãm hại (tru di tam tộc) khiến cho người đương thời vô cùng thương tiếc.

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng quan tước và tìm hỏi con cháu còn sót lại.

Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước ta. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng "Ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo".